Viêm teo niêm mạc dạ dày

logo

KHOA NỘI SOI - THĂM DÒ CHỨC NĂNG

Vì một hệ tiêu hoá khoẻ mạnh

Thời gian làm việc 7h30 - 16h30 | Thứ 2 - Thứ 6

Hotline: 0828684288

Địa chỉ: Tầng 2 nhà A - Bệnh viện Bãi Cháy

Email: [email protected]

Tìm kiếm bài viết

Trang chủ»ĐÀO TẠO»Viêm teo niêm mạc dạ dày

Viêm teo niêm mạc dạ dày

VIÊM TEO NIÊM MẠC DẠ DÀY

Teo niêm mạc dạ dày được coi là một tình trạng tiền ung thư, nguyên nhân chủ yếu là do nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori. Tình trạng này có thể tiến triển qua một số giai đoạn tiền ung thư và dẫn đến ung thư dạ dày.

Chìa khóa để đánh giá tình trạng teo dạ dày qua nội soi (TNMNS) theo phân loại Kimura-Takemoto là xác định vị trí của viền teo nội soi trong dạ dày. Năm 1966, Takemoto lần đầu tiên phát hiện trên mẫu bệnh phẩm dạ dày có một đường ranh giới giữa hai vùng có đặc điểm niêm mạc hoàn toàn khác nhau: một bên có niêm mạc màu đỏ đồng nhất và trơn láng; niêm mạc phía bên kia đường ranh giới nhạt màu hơn, dễ quan sát mạng lưới mao mạch nằm phía dưới và đặt tên cho đường ranh giới này là bờ teo niêm mạc (BTNM).  Để nhận biết rõ viền teo, đầu ống soi nên để cách thành dạ dày 5–10 cm.TEO 0

Các nghiên cứu đối chiếu giữa nội soi và mô bệnh học sau đó đã chứng minh BTNM thực sự là ranh giới giữa hai vùng niêm mạc có cấu trúc tuyến hoàn toàn khác nhau: ở dạ dày bình thường, đường ranh giới tuyến là ranh giới giữa vùng niêm mạc có cấu trúc tuyến môn vị và tuyến thân vị (tức là ranh giới giữa vùng hang vị và vùng thân vị); ở người có viêm dạ dày mạn teo thì BTNM thực sự là ranh giới giữa vùng niêm mạc bị teo và vùng niêm mạc bình thường. Dựa trên vị trí của BTNM, Kimura và Takemoto đã phân loại và đánh giá mức độ lan rộng của teo niêm mạc nội soi (TNMNS).

a1

BTNM  ở bờ cong lớn (A) và bờ cong nhỏ (B). Niêm mạc dạ dày có sự khác biệt về mức độ và màu sắc giữa 2 bên bờ teo. 

Các dạng teo niêm mạc nội soi theo phân loại Kimura – Takemoto

Hệ thống phân lại Kimura – Takemoto gồm hai dạng chính là dạng đóng (close type) và dạng mở (Open type). Khi BTNM còn nằm trên bờ cong nhỏ thì gọi là dạng C, khi BTNM không còn nằm trên bờ cong nhỏ mà đã lan rộng ra thành trước và thành sau thì gọi là dạng O. Dạng C và dạng O được phân chia chi tiết hơn thành các dạng như sau:

a2

 Hai dạng teo niêm mạc theo phân loại Kimura - Takemoto

Hệ thống phân loại viêm teo dạ dày theo Kimura - Takemoto

C1: BTNM đi ngang góc bờ cong nhỏ. Dấu hiệu teo niêm mạc chỉ có ở vùng hang vị.

C2: Bắt đầu từ phía bờ cong lớn của hang vị, BTNM tiến đến phía mặt trước dạ dày và băng ngang qua bờ cong nhỏ tạo thành hình khép kín gần như đối xứng. Các dấu hiệu teo niêm mạc xuất hiện theo hình parabôn phía trên góc bờ cong nhỏ nhưng chưa vượt quá ½ dưới của thân vị.

C3: BTNM nằm trên bờ cong nhỏ tương tự như ở C2 nhưng đã vượt quá ½ dưới của thân vị.

O1: BTNM nằm giữa bờ cong nhỏ và thành trước dạ dày, song song với trục dọc của dạ dày trên bờ cong nhỏ.

O2: BTNM nằm ở giữa thành trước dạ dày.

O3: BTNM nằm ở giữa thành trước và bờ cong lớn.

a3

 

a4

Vị trí bờ teo niêm mạc theo phân loại Kimura - Takemoto

Mức độ teo niêm mạc dạ dày theo phân loại Kimura – Takemoto:

- mức độ nhẹ (C1,C2).

- mức độ trung bình (C3,O1).

- mức độ nặng (O2,O3).

Ý nghĩa của phân loại viêm teo niêm mạc dạ dày trên nội soi:

TNMNS  trung bình đến nặng như một chỉ số nội soi giúp phát hiện ung thư dạ dày

Mối liên hệ giữa tổn thương ung thư dạ dày và bờ teo niêm mạc giúp bác sĩ nội soi tập trung vào những vị trí dễ xảy ra ung thư hơn. Ung thư đồng thời cũng là một mối quan tâm đối với các nhà nội soi vì tỷ lệ mắc của nó là khoảng 6,8% đến 8,1% sau khi cắt bỏ ung thư dạ dày sớm qua nội soi. Điều quan trọng là xác định những bệnh nhân có nhiều khả năng mắc ung thư dạ dày đồng thời tại thời điểm ung thư dạ dày nguyên phát được phát hiện. Một nghiên cứu gần đây trên những bệnh nhân có nhiều ung thư đồng thời cho thấy ở 96,7% bị teo dạ dày loại mở (tức là loại O-1, O-2 và O-3)

Sau khi cắt hớt niêm mạc dạ dày ( ESD) hoặc phẫu thuật ung thư dạ dày,  bệnh nhân vẫn có nguy cơ cao và cần được theo dõi các tổn thương di căn tại chỗ. Việc tiệt trừ H. pylori rất hữu ích để giảm tỷ lệ mắc di căn tại chỗ ở những bệnh nhân này.

Tài liệu tham khảo: Assessment of Endoscopic Gastric Atrophy according to the Kimura-Takemoto Classification and Its Potential Application in Daily Practice; Duc Trong Quach, Toru Hiyama.

Viết bởi BS CKI Lê Thị Thắm

 

 

KHOA NỘI SOI - TDCN

  Tầng 2 nhà A - Bệnh viện Bãi Cháy

 

đt  Hotline: 0828684288

 

  [email protected]